top of page
Họa sĩ
TÔ NGỌC VÂN
Thông tin sưu tầm về họa sĩ Tô Ngọc Vân:
Năm sinh: 15/12/1906
Nơi sinh: Phố Hàng Quạt, Hà Nội
Bối cảnh gia đình: Gia đình cha (ông Tô Văn Phú - mất năm 1949) thuộc giai cấp tiểu tư sản thành thì, gia đình mẹ (bà Nguyễn Thị Nhớn - mất năm 1965) là nhà Nho nghèo, không có điền thổ, sống bằng nghề buôn bán nhỏ. Do gia đình nghèo, Tô Ngọc Vân được bà nội và cô nuôi dưỡng ở phố Hàng Bông Lờ, Hà Nội, học đến năm thứ 3 trường Bưởi thì bỏ để theo đuổi nghiệp vẽ.
Năm 1925, thi trượt khóa đầu tiên của trường Mỹ thuật Đông Dương sau đó vào học lớp dự bị.
Năm 1926, ông đỗ khóa II, trở thành sinh viên chính thức trường Mỹ thuật Đông Dương.
Năm 1931, ông tốt nghiệp thủ khoa trường Mỹ thuật Đông Dương. Tại triển lãm thuộc địa tại Paris cùng năm, nhận huy chương Vàng với bức "Bức thư". Ông từng làm cho các báo Nhân Loại, Phong Hóa, Ngày Nay và Thanh Nghị dưới một số bút danh như Ái Mỹ, Tô Văn Xuân và Tô Tử.

Ngày 1/1/1932 lập gia đình riêng, vợ là bà Nguyễn Thị Hoàn (sinh ngày 30/12/1912), lễ cưới được tổ chức tại 95 phố Hàng Chiếu, Hà Nội, bố vợ là công nhân nhà máy in tư nhân của Pháp - ông Nguyễn Văn Toản, mẹ là bà Nguyễn Thi Cả là tiểu thương bán chiếu, ông và vợ có 5 người con.
Năm 1932, được khen thưởng bằng danh dự ở Phòng triễn lãm họa sĩ Pháp.
Năm 1933, tranh "Cảnh nhà Việt Bắc" được trưng bày tại Bảo tàng Alges, Tranh lụa "Gia đình Việt Nam" được trưng bày tại bảo tàng thuộc địa tại Paris. Được bầu làm hội viên Hội Họa sỹ Pháp. Được cử vào Huế vẽ tranh phòng ăn và nghỉ của nhà vua.
Năm 1935 - 1938, các tác phẩm tham dự triễn lãm Hội An Nam Khuyến khích Mỹ thuật và Kỹ nghệ (SADEA) - La Société Annamite d'Encouragement à I'Art et à I'Industrie). Về Huế vẽ phong cảnh Huế, sông Hương. Ông đi Campuchia dạy học tại trường Sisowath ở Phnom Penh.
Năm 1938 - 1939, về Hà Nội dạy tại trường Bưởi.

Tô Ngọc Vân giai đoạn theo học tại Trường M ỹ Thuật Đông Dương
Năm 1939, được bổ nhiệm giảng dạy hình họa tại Trường Mỹ Thuật Đông Dương, sau là giảng viên chính thức - được phong Giáo sư. Đào tạo được nhiều họa sĩ xuất sắc cho đất nước như: Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, Mai Văn Hiến, Kim Đồng, Lê Thanh Đức, Huỳnh Văn Gấm, Diệp Minh Châu, Phan Kế An...
Năm 1940 - 1942, vẽ tranh "Xuân tươi" (lụa - 1940) "Hiền và Vọi" (lụa - 1940), "Thiếu nữ bên tràng kỷ" (sơn dầu - 1941), "Thiếu nữ trước tranh tam đa" (sơn dầu - 1941), nhiều ký họa các thiếu nữ thành thị.
Năm 1943, Khi Trường Mỹ thuật Đông Dương sơ tán lên Sơn Tây, ông vẽ phong cảnh Sơn Tây, Đường Lâm và Chùa Mía. Sáng tác các bức sơn dầu "Dưới bóng năng", "Thiếu nữ bên hoa huệ". Tham gia nhóm nghệ thuật An Nam FARTA (Foyer de L'Art Annamite). Viết bài trên các báo Hà Nội: "Quan điểm về nghệ thuật, nghệ thuật dân tộc, về Nguyễn Gia Trí, bước đầu hội họa Việt Nam hiện đại Nguyễn Gia Trí với sơn ta. Cái đẹp trong hội họa".
Năm 1944, vẽ bức "Thiếu nữ với hoa sen" (sơn dầu), "Hai thiếu nữ và em bé" (Sơn dầu).
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, tham gia phong trào Văn hóa cứu quốc và vẽ tranh cổ động, với hai bức tranh cổ động lớn "Phá Xiềng", "Việt Nam giải phóng", vào vẽ Hồ Chủ tịch - "Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch" (sơn dầu - 1946). Được nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cứ làm giám đốc trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, tuyển sinh vào học được mấy tháng thì toàn quốc kháng chiến.
Năm 1946, lên Việt Bắc, công tác tại đội tuyên truyền xung phong vẽ tranh kẻ khẩu hiệu trên những mảnh tường, sau sang công tác tại đội kịch Tháng Tám hóa trang và đóng vai phụ.
Năm 1947, vẽ nhiều phong cảnh và hoạt cảnh kháng chiến tại Xuân Áng, Phú Thọ, nghiên cứu sơn ta cùng Nguyễn Tư Nghiêm.
Năm 1948, làm đoàn trưởng Đoàn văn hóa kháng chiến tại Vĩnh Chân (đoàn gồm nhiều các nghệ sĩ quen biết như: Thế Lữ, Phan Khôi, Đoàn Phú Thứ, Tạ Mỹ Duật, Võ Đức Diên....). Sau làm giám đốc xưởng họa sơn mài Việt Nam, biên tập viên đầu tiên và là những người sáng lập báo Văn Nghệ, viết một số bài "Bây giờ mới có Hội họa Việt Nam", "Tranh tuyên truyền với hội họa", "Học hay không học". Tham luận tại Đại hội Văn nghệ Việt Nam - ủy viên ban chuyên Mỹ thuật trung ương.
Năm 1949, 3 tháng đi cùng Trung đoàn Thủ đô. Đi phục vụ vẽ tranh cho phòng khách ban giao tế của Chính phủ, với các tác phẩm khổ lớn vài mét vuông như "Luồn rừng", "Y tá". Những tác phẩm sáng tác thời gian này là "Hà Nội vùng đứng lên" (sơn dầu - khắc gỗ), "Người lính trở về" (khắc gỗ), "Khi giặc đã qua" (sơn mài), "Nữ cứu thương" (sơn mài), "Bộ đội dừng chân trên đồi" (sơn mài) và hàng loạt tranh ký họa về "Bộ đội và Du kích", "Xưởng quân giới" (sơn dầu) 1951.
Năm 1950, được cử làm Giám đốc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trung ương tại Nghĩa Quân - Yên Phú. Sau năm 1951, chuyển thành hiệu trưởng trường Mỹ thuật Việt Nam, tổ chức đào tạo lớp họa sỹ kháng chiến. Đi chiến dịch Biên giới, vẽ cảnh Lào Cai, Lạng Sơn, trại tù binh Pháp.
Năm 1952, đến vẽ tại xã Xuân Quang, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ; Hiệp Hòa; Thái Nguyên (tháng 3), tại Minh Cầu, Thái Nguyên (tháng 5,6). Vẽ Bác Hồ 1952 - HenriMatanh 1952. Nhận thư khen của Bác Hồ (lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)
Năm 1953, tham gia chỉnh huấn và phát động quần chúng tại Ninh Dân, Phú Thọ, làm đội viên ba cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm với chiến sĩ), vẽ tranh về nông dân đấu tranh với địa chủ.
Đầu năm 1954, vẽ hàng loạt tranh ký họa về nông dân như: "Bủ Kiêu", "Tố khổ", "Tôi có ý kiến", "Đi học đêm", "Chị cốt cán", "Đốt đuốc đi học", "Hai chiến sĩ"...
Tháng 4 năm 1954, ông xung phong lên chiến trường Điện Biên Phủ, vẽ cảnh tiền tuyến, vẽ phong cảnh sinh hoạt dân tộc - Tây Bắc và sinh hoạt bộ đội ở Điện Biên. Nhiều bức tranh ra đời như: "Giáo viên dân tộc Thái", "Cho ngựa ăn", "Qua đèo", "Qua suối", "Trú quân". Ngày 17/6, hy sinh tại km 41 Ba Khe, bên kia đèo Lũng Lô lịch sử. Tháng 11, toàn bộ tranh kháng chiến của ông được trao giải thưởng lớn tại Triễn lãm Mỹ thuật Toàn quốc 1954 tại Hà Nội. Nhận chiếc áo Bác Hồ (lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam).

Tô Ngọc Vân cùng gia đình
Năm 1955, khóa học đầu tiên của Trường Mỹ thuật Việt Nam mang tên Tô Ngọc Vân. Năm 1956, di hài của ông được chuyển về nghĩa trang Thanh Xuân.
Năm 1956, nhiều tác phẩm tham dự triển lãm tại các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Mông cổ.
Năm 1958, tác phẩm tham dự triễn lãm 12 nước Xã hội Chủ nghĩa tại Mascow, sau đó đi Đông Âu, được hoan nghênh và khen ngợi.
Năm 1964, được công nhận liệt sỹ, an táng tại nghĩa trang Mai Dịch. Triễn lãm hồi cố cá nhân tác phẩm trước và sau Cách mạng Tháng Tám được tổ chức tại số 10 Hàng Đào, Hà Nội do Hội Mỹ thuật Việt Nam và trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam tổ chức.
Năm 1985, một con đường ở Thành phố Hồ Chí Minh được đặt theo tên ông.
Năm 1995, một con phố ở Hà Nội được đặt theo tên ông.
Do hoàn cảnh chiến tranh, nhiều tác phẩm đẹp trước cách mạng bị đánh cắp, hoặc bị mất mát, bị phá hủy, thất lạc nên trong nước chỉ còn lại phần lớn là ký họa và một số tác phẩm sơn dầu, sơn mài của ông.
------------------------------------------------------
Nguồn:
1. Tô Ngọc Vân - Nhà xuất bản Mỹ thuật 2006;
2. Tô Ngọc Vân - Cuộc đời và Sự nghiệp - Nhà xuất bản Mỹ thuật;
3. Tô Ngọc Vân - Tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam, tác giả Phan Cẩm Thượng, Nhà xuất bản Tri Thức;
4. Tô Ngọc Vân - Hình họa và Ký họa - Nhà xuất bản Mỹ Thuật;
5. Tranh và tượng Việt Nam - Nhà xuất bản Mỹ thuật và Âm nhạc Việt Nam - T6/1957;
6. Triễn lãm "Hình vang vọng ý - Đối thoại cùng Tô Ngọc Vân" do Phù Sa Art Foudation & Lân Tinh Foundation tổ chức.

Chân dung Tô Ngọc Vân

Tô Ngọc Vân giai đoạn theo học tại Trường Mỹ thuật Đông Dương

Tô Ngọc Vân cùng với gia đình trước lúc hy sinh (1954)

Chân dung Tô Ngọc Vân
TÁC PHẨM
bottom of page













































































