top of page
Họa sĩ
TRẦN VĂN CẨN
Danh họa Trần Văn Cẩn (1910 - 1994) quê ở Bắc Ninh nhưng sinh ra tại Kiến An, Hải Phòng. Cha ông làm ở sở Bưu Điện, mẹ ông làm nghề nặn con giống và làm đèn giấy. Ông có một người cậu làm nghề họa đồ, mê vẽ. Trần Văn Cẩn có lẽ thừa hưởng được sự khéo tay của mẹ và niềm yêu thích những bức vẽ của người cậu.
Kết thúc tiểu học ở Kiến An, Trần Văn Cẩn được đưa lên Hà Nội học trung học. Đến năm 1925, theo ý của bố, Trần Văn Cẩn thi vào trường Bách nghệ Hà Nội ban thiết kế đồ gỗ, vẽ mầu đăng ten. Ra trường năm 1930, chàng trai trẻ được điều về làm việc tại Viện nghiên cứu Hải dương học Nha Trang. Nhiệm vụ của anh là hàng ngày vẽ, ghi chép lại những con cá được đánh bắt từ biển về. Công việc có phần tẻ nhạt, nhưng Trần Văn Cẩn được mở rộng tầm mắt, tiếp xúc với không gian thiên nhiên biến biếc Nha Trang, những đền đài champa trầm mặc uy nghi dọc biển miền Trung.

Cũng tại đây, chàng công chức trẻ tuổi được tiếp xúc với một họa sĩ người Pháp. Lần đầu tiên ông biến đến những ống đựng sơn, thứ màu vẽ có thể pha trộn với nhau để tao ra những màu mới. Một cách bí mật, Trần Văn Cẩn đã thích thú, tìm tòi thử vẽ thiên nhiên, cảnh vật Nha Trang từ phòng làm việc của mình bằng thứ màu mới mẻ này. Từ những bức vẽ con non nớt ấy, ông đã nuôi mộng trở thành họa sĩ. Rồi chẳng mất nhiều thời gian suy nghĩ, năm 1931, Trần Văn Cẩn quyết định chia tay sở Cá Nha Trang trở về Hà Nội. Sau ba tháng học lớp dự bị do họa sĩ Nam Sơn hướng dẫn, Trần Văn Cẩn thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa VII (1931 - 1936). Ông học cùng lớp với Nguyễn Gia Trí, Lưu Văn Sìn, Vũ Đức Nhuận, Nguyễn Văn Tại, Nguyễn Thụy Nhân, Nguyễn Trọng Bang.

Ảnh chân dung và chữ ký của họa sĩ Trần Văn Cẩn. Nguồn: Sách Họa sĩ Trần Văn Cẩn - Nhà xuất bản Văn hóa - Hà Nội, 1983.
Trích đoạn lời của Nhà xuất bản trong cuốn sách Họa sĩ Trần Văn Cẩn, tác giả Triều Dương, xuất bản năm 1983: "Trần Văn Cẩn là một trong những họa sĩ thuộc lớp người đi trước của giới Mỹ thuật Việt Nam. Ông đang bước vào những năm 70 của cuộc đời mình và trải hơn nửa thế kỷ hoạt động nghệ thuật. Tên tuổi của ông đối với đông đảo công chúng không phải vì những chức danh Tổng Thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam, hay nguyên Giám đốc trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, mà bởi nghệ thuật của ông nổi bật một tạng chất (tempérament) dịu nhẹ, hồn nhiên, nhưng không kém sôi động và linh hoạt.
Đối với nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại, ông vừa là một nghệ sĩ sáng tác, đã đóng góp một phong cách nghệ thuật riêng biệt; và vừa với tư cách là một lãnh đạo, ông đã cống hiến nhiệt tình và trách nhiệm vun đắp cho phong trào mỹ thuật nước nhà phát triển toàn diện để có tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực trong xã hội."
Trích đoạn nói về danh họa trong sách "Các họa sĩ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương":
"Trần Văn Cẩn đến với sơn dầu sau khi đã sáng tác thành công nhiều tác phẩm lụa. Và ông đã dung hòa lối vẽ lụa dịu dàng, êm ái với lối vẽ sơn dầu rắn rỏi, mạnh mẽ, tạo cho mình một phong cách thuần nhị Á Đông. Trong tranh Em Thúy, Trần Văn Cẩn sử dụng lớp sơn dầu mỏng mịn, lóng lánh xà cừ, lướt qua trên nền vải trong giây lát mà đã diễn tả lên thanh thoát vẻ tươi trong, ngời sáng trên khuôn mặt em bé thơ ngây. Đó là tác phẩm có giá trị đặc biệt, xứng đáng được xếp vào hàng tiêu biểu cho thời kỳ sơn dầu cổ điển - lãng mạn Việt Nam. Trần Văn Cẩn cùng với Lưu Văn Sìn, Lương Xuân Nhị, Sỹ Ngọc, Nguyễn Văn Tỵ - các họa sĩ "gốc lụa" vô hình trung họp thành đoàn lữ khách, chu du vào miền sơn dầu đất lạ, sáng tác đủ các loại phong cảnh - tĩnh vật - sinh hoạt - chân dung - và nhiều nhất là về các thiếu nữ yêu kiều của Hà thành hoa lệ."

Ảnh tác phẩm "Em Thúy", chất liệu sơn dầu, kích thước 60 x45 cm, sáng tác năm 1943. Nguồn: Sách Các họa sĩ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương
Niên biểu sơ lược tiểu sử của Họa sĩ Trần Văn Cẩn:
1910: 13 tháng 8, sinh tại Kiến An.
1925: Vào học Trường Bách Nghệ Hà Nội.
1930: Làm việc ở Viện Hải dương học Nha Trang (Institut océanographique).
1931: Thì vào trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương.
1934: Gửi dự phòng Triển lãm Họa sĩ Pháp - Paris (Tranh lụa: Mẹ tôi).
1935: Dự triển lãm lần thứ I Hội khuyến khích Mỹ thuật - Kỹ nghệ (Société d'encouragemen à I'art et à I'industrice (SADEAI) Hà Nội. Với các tác phẩm: Em gái tôi (sơn dầu) - Cha con (lụa) - Đi làm đồng (lụa) - Cảnh bờ sông Hồng (khắc gỗ màu). Giải ngoại hạng - Được cử vào làm Ban giám khảo Triển lãm.
1936: Dự triển lãm lần thứ II (SADEAI) Hà Nội - Chân dung (lụa) - Cô đơn (lụa) - Chăn ngựa (lụa).
1937: Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Dự Hội chọ Triển lãm Quốc tế Paris lần thứ II, tác phẩm: Chợ hoa - Chăn ngựa - Thuê (lụa).
1938: Dự triển lãm lần thứ III (SADEAI) Hải Phòng. Tác phẩm: Trong vườn (sơn mài) - Gửi dự Triển lãm ở Batavia - Đi lễ chùa (lụa).
1939: Dự triển lãm lần thứ IV (SADEAI). Tác phẩm: Bên sông Hồng (lụa), Phong cảnh Huế (sơn dầu).
1940: Gửi sang Tokio tác phẩm: Gánh lúa (lụa) - Ngư dân (sơn dầu).
1943: Tham gia phòng tranh của nhóm FARTA (Foyer de I'art d'Annam) Trung tâm Nghệ thuật Việt Nam - lần thứ I. Tác phẩm: Em Thúy (sơn dầu) - Gội đầu (khắc gỗ) - Giải nhất FARTA.
1944: Tham gia triển lãm nhóm FARTA lần thứ II. Tác phẩm: Hai thiếu nữ trước bình phong (lụa) - Bên ao sen (sơn dầu).
1944: Gửi Triển lãm Duy Nhất: Tranh Nắng trong vườn (sơn dầu).
1945: Tham gia Cách mạng - vẽ tranh cổ động (cứu nông dân, trừ giặc đói - Phá xiềng - Minh họa sách Dẫn chứng tội ác Thực dân Pháp. Vẽ tranh cổ động Nước Việt Nam của người Việt Nam.
1945: Vẽ mẫu cửa và chỉ đạo trưng bày Triển lãm Văn hóa.
1946: Dự và trình bày Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc lần thứ I. Tác phẩm: Xuống đồng. Giải nhất triển lãm. Làm giảng viên Trường Mỹ thuật Việt Nam.
1947: Đi kháng chiến - Làm công tác Thông tin Tuyên truyền huyện Từ Sơn. Vẽ tranh cổ động kháng chiến - Làm hóa trang, trang trí cho Đoàn kịch thiếu nhi Diên Hồng.
1948: Lên Khu II - Công tác tuyên truyền Khu - làm tranh điệp. Tham gia chiến dịch Trung du - Hướng dẫn chiên sĩ vẽ. Làm trang trí và trình bày Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc lần II - Dự Triển lãm với nhiều ký họa kháng chiến (tranh điệp).
1949: Làm trang trí trong khu Giao tế - Vẽ tranh Dân quân kiểu tranh tường.
1950: Lại về dạy Trường Mỹ thuật Việt Nam mở lại ở Chiến Khu. Hướng dẫn học sinh đi thực tập ở Lào Cai, Đình Cả, Bắc Sơn; ghi chép tài liệu.
1951: Trưởng Ban tổ chức Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc lần thứ III. Dự triển lãm với các tác phẩm: Ở hang (lụa) - Gánh thóc thuê - Nhớ ơn người chiến sĩ vô danh (tranh cổ động). Giải thưởng tranh cổ động.
1953: Tham gia công tác cải cách ruộng đất - Vẽ tranh lụa: Nông dân vạch tội ác địa chủ - Kỹ họa nông thôn.
1954: Trưởng ban tổ chức Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc lần thứ V - Dự triển lãm với tranh lụa: Con đọc Bầm nghe.
1955: Trưởng ban tổ chức Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc lần thứ VI. Gửi dự tranh lụa Lò đúc lưỡi cày trong kháng chiến. Làm hiệu trưởng trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam.
1957: Trưởng ban tổ chức triển lãm Mỹ thuật toàn quốc lần thứ VII: Gửi dự: Nối lại dây gàu (sơn dầu) - Tát nước đồng chiêm (sơn mài). Giải thưởng nhất - Được bầu làm Tổng Thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam.
1958: Tham dự Đoàn Triển lãm Mỹ thuật Việt Nam sang trưng bày tại Triển lãm Quốc tế các nước Xã hội chủ nghĩa ở Mát - xcơ-va.
1960: Trưởng ban tổ chức triển lãm Mỹ thuật toàn quốc lần thứ VIII. Dự bày: Nữ dân quân vùng biển. Giải thưởng hội họa.
1961: Được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
1962: Trưởng ban tổ chức triển lãm Mỹ thuật toàn quốc lần thứ IX. Gửi bày: Mùa đông sắp đến (sơn mài) - Chân dung Bắc thợ lò (sơn dầu) - Thiếu nữ áo trắng (sơn dầu).
1962: Lên Lạng Sơn - Trực họa - Nghiên cứu - Ký họa.
1965: Về vùng mỏ - Về Khu IV - Ghi chép tài liệu sáng tác. Trực họa cảnh kháng chiến.
1968: Sáng tác tranh sơn mài Thằng cu đất mỏ. Sang Cu-ba: dự Hội nghị văn hóa thế giới thứ III.
1969: Đi Quảng Bình - Vinh Linh: Nghiên cứu sáng tác.
1970: Trực họa ghi chép ở Quảng Bình - Vinh Linh.
1972: Làm tranh sơn mài Mưa mai trên sông Kiến.
1973: Tham gia Hội đồng chấm thưởng Triển lãm Quốc tế hội họa hiện thực ở Xôphia (Bungari).
1974: Phác thảo bức Lúa về - Trưng bày ký họa, trực họa ở An-giê (Angiêri).
1975: Đi Trường Sơn - Vào Buôn Mê Thuột giải phóng - Vẽ tranh Hồ Chủ Tịch trên lễ đài mừng chiến thắng.
1976: Trưởng ban tổ chức triển lãm Mỹ thuật toàn quốc lần thứ X. Dự phòng tranh với các tác phẩm: Tiến sâu vào lòng đất - Trong lòng đất (sơn mài).
1978: Ủy viên Hội đồng Triển lãm Quốc tế (Quadriennale India) lần thứ 4 ở Ấn Độ.
1979: Lên Tây Nguyên - nghiên cứu - ghi chép tài liệu về buôn làng đổi mới - Thủy lợi trên cao nguyên - Dựng phác thảo: Làm thủy lợi - Một trận đánh Mỹ - Ngụy ở Cheo Reo.
1980: Dự Triển lãm đồ họa quốc tế ở Berlin - Ủy viên Hội đồng chấm thưởng.
Được tặng thưởng:
- Huân chương kháng chiến hạng 2.
- Huân chương lao động hạng 3.
- Huy chương kỷ niệm Lê-nin.
- Huy chương Vì thế hệ trẻ của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tặng.












